| chê |
1. Không cho là phải, là được, trái với khen: Chê bai, chê cười. Văn-liệu: Hay khen hèn chê. Cao chê ngỏng, thấp chê lùn. Béo chê béo trục béo tròn, Gầy chê xương sống xương sườn bày ra. Con đừng học thói chua ngoa, Họ hàng ghen ghét người ta chê cười. Ma chê cưới trách. Ma chê quỉ hờn. Ai chê đám cưới, ai cười đám ma. Lươn ngắn lại chê chạch dài, Thờn-bơn méo miệng chê chai lệch mồm. Đừng chê tôi xấu tôi đen, Kìa như nước đục đánh phèn lại trong. Nói chín thì làm nên mười, Nói mười làm chín, kẻ cười người chê. Canh cải mà nấu với gừng, Chẳng ăn thì chớ xin đừng chê-bai. Kẻ chê bất-nghĩa, người cười vô-nhân (K.). Nước trong khe suối chảy ra, Mình chê ta đục mình đà trong chưa (Việt-nam phong-sử). Chuột chê xó bếp chẳng ăn, Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre. Chuột-chù chê khỉ rằng hôi, Khỉ mới trả lời cả họ mày thơm. Con chó chê khỉ lắm lông, Khỉ lại chê chó ăn rông ăn dài. Liệu mà thờ kính mẹ cha, Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười. ở sao cho vừa lòng người, ở hẹp người cười, ở rộng người chê. Chê chồng trả của. Chẳng chê cũng mất lề con gái. Chê cam sành lại phải quít hôi. Trai chê thì để, gái chê thì bồi. Chê thằng một nai lấy thằng hai lọ. Chê chồng trước đánh đau, gặp chồng sau mau đánh. Chồng chê thì mặc chồng chê, Dưa khú nấu với cá trê càng bùi. Chê của dì lấy gì làm bữa. Chê tôm lại phải ăn tôm, Chê rau muống luộc phải ôm rau già. 2. Không ưa: Vợ chê chồng. |