| kinh tế học |
Môn học về cách tổ-chức sinh-hoạt, đời sống vật-chất của một nước và sự tương-quan với một nước khác về phương-diện vật chất và như vậy, có nghĩa bao trùm luôn cả những tương-quan chính-trị: Sự tổ-chức cuộc sinh-hoạt kinh-tế nghĩa là tổ-chức đời sống vật chất của xã-hội là một sự cần thiết trước tiên cả vì khi con người còn ăn lông ở lỗ, tuy chưa biết tổ-chức như chúng ta bây giờ, cũng đã tìm cách làm cho những điều-kiện vật chất chung quanh đất đai, rừng núi, thổ sản v.v... hợp với sự sống của mình. Tạo hoá, thiên-nhiên bất lực về cái chỗ phân-phát không đều và không đúng những nguyên-liệu mà sức-lực, đầu óc của con người phải tự sắp đặt mà chế-biến ra thành thức ăn và thức cần dùng. Con người, theo một bản tánh tự-nhiên và trí thông minh, khi làm ra thức ăn và thức cần-dùng, cũng đã cố sản-xuất ra thật nhiều mà tiêu-phí công-lao ít và sau lại cố tìm cách trao đổi cho nhau chỗ thừa thiếu. Như vậy, trong hình-thức sinh-hoạt thô-sơ nhất của loài người, vấn-đề kinh-tế cũng đã tự đặt ra rồi. Theo đó, kinh-tế học với nghĩa đầy đủ của nó ngày nay là môn học chuyên cứu những tương quan của loài người với sự vật cũng như tương quan giữa loài người với loài người. Bắt đầu từ năm 1758, bác sĩ Kê-nay (Quesnay) đã nói về các hiện-tượng kinh-tế và đề cập đến sự sống theo một lề lối tự-nhiên và cần thiết của xã-hội loài người. Chỉ cách đây hơn nửa thế kỷ, người ta mới nói nhiều về khoa kinh-tế và nhiều phái được đưa ra, trước hết là phái kinh-tế học phú-hào gồm có phái cổ điển mà ta thấy có các nhà kinh-tế học như A-đam Xì mít (Adam Smith) Ri-các-đô (Ricardo) Ma-tuýt (Mathus) Xì-tuy-a Min (Stuart Mill), phái chủ trương một nền kinh-tế tự-do căn cứ trên sáng kiến và tư-bản của tư nhân phái "mạnh ai nấy được" và bài bác tất cả hình-thức can-thiệp của chính phủ; phái kinh-tế học quốc gia có Lít (f.List) và Ca-rây (Carey); phái chủ trương can thiệp kinh-tế có Xít-môn-đi (Sismodi) chống với phái cổ điển: phái xã hội cầm đầu là Xanh Ximôn (Saint Simon) với các đồ đệ là Phu-ri-ê (Fourier) Phờ-ru-đôn (Proudhon) Lu-i Bơ-lăn (Louis Blanc) chủ-trương sửa đổi gắt gao các luật lệ xã-hội để mong phân phát sản-phẩm được công-bình hơn cho mọi người. Về sau căn cứ trên các học-thuyết của mấy phái trên để công kích rồi sửa đổi thành một học-thuyết mới, đặt thành một phái mới hoàn toàn khác hẳn kêu là phái kinh-tế xã-hội khoa học, do Kác-Mác đề xướng, mà Lê-nin và Xit-talin thực hành. Phái nầy chủ-trương: a) Quốc-hữu hoá lần hồi hay triệt để tất cả các phương-cách sản-xuất sản-phẩm. b) Tài-sản làm của chung xã-hội (cọng-sản); c) Phân phát đồng đều sản-phẩm cho mọi người tuỳ theo tài-năng và việc làm. Gần đây lại có thêm những nhà kinh-tế học mới, sửa đổi ít nhiều hay cố ý dung-hoà những phái trên cho hợp với cuộc sinh-hoạt ngày nay mà ta có thể kể đầu hết là A.Mac San (Alfred Marshall) và Kê-nờ (Keynes) người Anh. Tóm tắt, phái nầy hoặc phái kia đều gắng đưa ra một chủ-trương, một chế-độ kinh-tế hay ho hơn cả do theo kết quả của mỗi chế độ. Chế-độ nào giữ được thăng bằng lâu nghĩa là giữ sự sản-xuất và tiêu-thụ hoà-hợp và tiến-triển mãi mà không gặp phải một cuộc xáo trộn nào - chúng ta gọi là kinh-tế khủng-hoảng (Xt. Kinh-tế khủng-hoảng) - thì chế độ ấy có thể tự-hào là hợp-lý và hay hơn cả. Ta có thể nói mỗi cuộc khủng-hoảng về kinh-tế có nghĩa là khủng-hoảng về khoa-học kinh-tế. Ngày nay, với những điều-kiện xã-hội rõ-rệt, ta có thể chia ra hai chế-độ kinh-tế khác nhau hẳn: chế-độ kinh-tế tư-bản của khối Mỹ và chế-độ kinh-tế xã-hội của khối Nga. I. Chế-độ kinh-tế tư-bản - Nẩy nở sau những điều phát-minh lớn lao và sự phát triển mua bán vàng bạc trong thời-kỳ gọi là cách mạng kỹ-nghệ mà máy móc xuất-hiện với sự dùng hơi nước, điện v.v...; hơn nữa, trong các nước tiền-tiến mà kỹ-nghệ mở mang (Âu-Mỹ) người ta lại đặt ra những luật-lệ thích-hợp với những sáng kiến cá nhân, chẳng hạn, quyền tư-hữu được tuyên bố là bất khả xâm-phạm, những hợp-đồng tự-do có một quyền tối-thượng giúp các hội kinh doanh được mọc ra rất nhiều, phần đông là những hội vô-danh (Xt. hội vô danh). Trong chế độ kinh-tế tư-bản, phần tử quan-trọng hơn hết là ông chủ hay nhà tư-bản. Ông nầy định đoạt vận-mệnh sinh-hoạt trong xứ, sự mua vô bán ra, giá cả lên xuống, xuất-nhập cảng. Sự tăng dồn tư-bản càng lớn, thì lực-lượng sản-xuất cũng lớn hơn. Ban đầu còn ở trong tay nhiều người, về sau, các hội tư-bản mạnh đã hút mất cái nhỏ và nền kinh-tế tư-bản về sau chỉ còn ở trong tay một nhóm người, một nhóm gia-đình (ở Pháp có 200 gia-đình, ở Mỹ cũng có trên dưới một số như thế). Lực-lượng kinh-tế của họ đã bao trùm tất cả các ngành hoạt động khác, cả đến đời chính-trị trong xứ, Quốc-hội, nghị-sĩ, tổng-trưởng, quan-toà, báo-chí tự-nhiên là phải ở trong tay họ vì "Đồng tiền mua được tất cả". Nhưng lực lượng dữ-dội của họ đi đôi với một sự tổ-chức chặt-chẽ và khôn khéo trong lối sản-xuất (phương-pháp hợp-lý-hoá, phương-pháp Tay-lo (Taylorisme) để đạt nhiều kết quả nghĩa là sản-xuất hàng hoá thật nhiều lại không ăn khớp với cái lối phân-phối tiền lời rất chênh-lệch mà họ cố giữ phần hơn giữa họ và những nhân công lao lực làm ra hàng hoá. Tiền lương của những người sau nầy rất nhỏ đối với số hàng-hoá của nhà tư-bản bán ra và số lời của họ, nên tiền lương - sức mua - của nhân công với hàng-hoá - sức bán - của nhà tư-bản không hoà hợp, nghĩa là cung và cầu chênh-lệch và tự-nhiên nghiêng ngửa. Sự nghiêng-ngửa nầy sinh ra các cuộc khủng hoảng về kinh-tế (Xt. Kinh-tế khủng-hoảng) và đưa chế-độ kinh-tế tư-bản đến chỗ phá sản. II. Chế-độ kinh-tế xã-hội - Trái với chế-độ kinh-tế tư-bản lấy tư-hữu - tài-sản tư-riêng của các nhà tư-bản cầm trong tay các phương-tiện sản-xuất - làm nòng cốt, chế độ kinh-tế xã-hội (ở Nga và các nước trong khối Nga) lại căn-cứ trên: " những điều-kiện vật-chất về sản-xuất, các phương-tiện sản-xuất đều là tài sản chung của thợ-thuyền" mà nền tảng là, một bên tài-sản của Quốc-gia, (đất đai, hầm mỏ, nước, núi, máy móc, đường giao-thông, ngân-hàng) và một bên, tài-sản công-cọng của nông-dân trong hình-thức ban sản-xuất và hợp tác xã tiêu-thụ. Nền kinh-tế xã-hội đi theo đường lối những kế hoạch bao trùm các ngành sinh-hoạt trong xứ và do sự xã-hội hoá các phương-cách sản-xuất. Kế hoạch có hai yếu tố cần thiết: mục-đích và công-việc phải làm để đạt tới mục-đích ấy, như vậy phải: a) Đặt ra những phương-pháp sản-xuất và phân-phối hàng-hoá tuỳ theo phú-nguyên và sức làm việc trong xứ, phải sản-xuất thật nhiều trong một thời-gian ngắn với ít công nhất. b) làm thế nào mà sự sản-xuất và phân chia không gặp khủng hoảng, thợ-thuyền được tham gia vào các công-cuộc ấy và hiểu rõ phương-tiện, khả-năng trong xứ. Ta có thể bàn qua về: a) Kế-hoạch - Mỗi kế hoạch đều phải tính tỉ-mỉ từng con số của mỗi ngành, sản-xuất, tiền vốn (làm các công xưởng máy móc mới) giá vốn, kết-quả, tiền lương. Mỗi ngành hoạt động riêng của Quốc-gia hay của hợp-tác-xã, đều có một kế hoạch kinh-tế nhứt-định; b) Tiền-lương và giá cả - Tiền-lương - theo cái nghĩa là sức mua hàng-hoá - của người thợ trong một nền kinh-tế xã-hội có: 1. Một phần lương chung trong số lương công-cọng thường dùng về lúc hưu-trí, bịnh hoạn, sinh đẻ, con cái đi học; 2. Số lương bằng tiền, tuỳ theo khả năng, tài-trí của người thợ đã giúp cho đoàn-thể; ở đây người ta phải nhìn nhận sự không đều nhau về số lương là hợp lý, chỉ cốt số lương ấy không chênh-lệch nhau quá. 3. Tiền thưởng - Số lương nầy quan-hệ hơn cả - cố lấp cái chỗ đồng lương không đều trên kia và khuyến-khích người thợ làm việc nhiều - người nào sản-xuất được nhiều thì tiền thưởng càng cao. Ngày nay ở Nga, đã cố gắng số lương căn-bản của mỗi người thợ tuỳ theo người ấy làm nhiều hay ít; 4. Phần lời - Phần lời nầy chia ở trong số lời chung của mỗi hợp-tác xã sản-xuất mà mỗi hội-viên là mỗi cổ-đông. Sự định lương bổng, như vậy, làm cho mọi người cùng ngang nhau về may mắn nghĩa là trong việc học chữ, học nghề, địa-vị trong xã-hội đều tuỳ theo sức cố-gắng của mỗi người - người nào biếng nhác thì khó đỗ đạt, khó ăn lương lớn. Về giá cả hàng-hoá, tự-nhiên cũng định theo kế hoạch khi còn ở giai-đoạn chế-độ xã-hội - chưa phải là cọng sản - thì giá-cả hàng-hoá cũng chưa thể nhứt-định được vì nếu có thể kiểm-soát được sự sản-xuất kỹ-nghệ thì lại khó kiểm soát được sự sản-xuất nông-sản, như vậy, phải để cho nông-dân hưởng cái phần dư về hoa màu họ làm ra khi đã đóng góp xong phần vào đoàn-thể. Trên thị-trường, luật cung và cầu cũng giống như ở chế-độ tư-bản, người ta không thể, trong lúc sản-phẩm còn khan hiếm, đặt ra một giá nhứt-định. Thế nên chính-phủ vẫn để một phần giá cả được tự-do, chỉ định giá những món cần thiết tối-thiểu cho nhu-cầu dân chúng mà thôi. Theo như ở Nga, thì có bốn cái "chợ" chính thức: hợp tác xã, cửa hàng của chính-phủ bán giá nhứt-định, cửa hàng của các ban sản-xuất công cọng và cửa hàng của chính-phủ bán giá tự-do. Thường, chỉ có giá sỉ là theo kế hoạch mà thôi. c) Ngân hàng, tín dụng và tiền tệ - Theo chế-độ kinh-tế xã-hội, thì những ngân hàng trong xứ đều ở trong tay Quốc-gia và giữ một vai-trò rất quan trọng. Ở Nga chẳng hạn, chính-phủ bắt buộc tất cả các doanh-nghiệp phải có tiền gởi ở ngân-hàng (mục vãng-lai và mục thanh toán) để lấy ra gởi vào mua hay bán hàng-hoá, vật-liệu giữa các doanh-nghiệp. Chính-phủ cấm các cơ-quan, quốc-gia và hợp-tác-xã bán chịu hay là giúp nhau bằng những tín-dụng chỉ có một lối tín-dụng là tín-dụng do ngân hàng phát ra. Ngân-hàng Quốc-gia được quyền phát hành những giấy bạc mà chuẩn-kim là 25% và 75% hàng-hoá có thể dễ-dàng trao đổi. Ngân-hàng có phận-sự cho các ngành kỹ-nghệ vay ngắn hạn, giúp vốn cho các cơ-quan trùng tu, làm công-việc thanh-toán giữa các cơ-quan kinh-tế, lo về việc giao dịch quốc-tế, hối-đoái, ngoại tệ v.v... Những ngân-hàng đặc-biệt mới có cho vay dài hạn, cốt giúp cho các công cuộc kiến-thiết, và có đặt chi nhánh khắp cùng trong xứ. Tiền tệ, ở Nga thì lại khác các thứ tiền tệ của những nước tư-bản. Vàng vẫn giữ vai trò quan-trọng như là tiền-tệ hóa-phẩm trong công-cuộc giao-dịch quốc-tế. Nhưng, theo nguyên-tắc, vai trò của nó thay đổi hẳn đối với trong xứ, vì ở đây vàng không còn quyết-định giá cả của hoá vật nữa. Giá trị của tiền giấy không phải do giá-trị của vàng định-đoạt vì một phần lớn hàng-hoá đều do chính-phủ bán ra và đã định giá trước. Nếu hàng-hoá của chính-phủ bán ra nhiều thì tiền mới được giá và trái lại thì tiền mất giá. Trong điều-kiện đó, số chuẩn-kim chỉ coi là phụ. Quan-hệ là Quốc gia phải gắng sản-xuất thật nhiều hóa-phẩm. Tóm lại, vì những nguyên-do lớn ấy, mà đồng-tiền ở đây chỉ có một quan-hệ tượng-trưng. Tiền tệ, tóm lại chỉ là phương-tiện để kiểm-soát sức sản-xuất công-cọng mà thôi. d) Chế-độ tài-chính - Thường thường, ngân sách quốc-gia của các nước tư-bản trong thời-kỳ cố-gắng nhất là thời-kỳ chiến-tranh cũng chỉ choán chừng 50% tới 60% của lợi tức toàn quốc. Muốn choán một phần lợi-tức như vậy, các nước tư-bản phải tăng gia thuế và vay mượn bằng phiếu quốc trái trong thị trường tư-bản. Ngân-sách ở Nga, chẳng hạn, trong thời bình cũng choán hết một phân nửa lợi-tức toàn quốc. Thêm vào đó, chính phủ còn vay mượn - ở đây không có thị-trường tư-bản - tiền dành dụm của dân chúng lấy riêng ra không là bao nhưng họp lại là một số rất lớn. Tuy vậy, tiền mượn ấy không quá 10% đối với tổng số. Một nguồn lợi khác, mà chính phủ trông cậy nữa là tiền lời ở các doanh nghiệp do Quốc gia quản-nhiệm như đổn-điển, cửa hàng buôn, sở vận-tải công-cọng v.v... Theo đó, chúng ta có thể tính biết rằng lợi tức là giá tiền bán hàng hoá trừ cho giá vốn. Như vậy, chính-sách tài-chính dính liếc mật thiết với chính sách vật giá mà chính-phủ thi-hành. Muốn cho đồng tiền khỏi mất giá và giữ mối lợi trong cuộc giao-dịch thương mãi tổng quát giá bán thường ít khi thay đổi. Tuy thế lần hồi chính phủ cố gắng giảm bớt giá vốn nhờ máy móc tinh xảo và năng lực sản-xuất mạnh hơn. Giá vốn càng ít thì tiền lời càng nhiều, lợi-tức của Quốc-gia được nhiều hơn giúp cho chính-phủ tránh sự vay mượn. Nhưng lợi-tức, tiền-bạc của Quốc gia sẽ đi ngã nào? Hơn một phân nửa ngân sách chi-phí vào công cuộc mở-mang nền kinh-tế trong xứ bằng lối tăng thêm vốn các xí-nghiệp, mở thêm công xưởng mới, sửa sang công-xưởng cũ. Còn lại thì dùng vào việc xã-hội, văn hoá, hành-chánh và quốc-phòng. c) Tiết kiệm - Người ta đã ngạc nhiên về sức kiếm tiền của một nước có một chế-độ kinh-tế xã-hội. Dân chúng vừa là nguồn sức làm việc vừa là nguồn tiền bạc mà chính-phủ thấy rất dễ nhờ cậy. Nó là một vấn-đề tín-nhiệm đặc-biệt của các nước xã-hội. Dân chúng khi đã được huyấn luyện chặt chẽ, khi đã tin-tưởng chế-độ và tiền bạc không phải là cái mối lo ngại của mỗi người thì sự đóng góp một phần tiền dành-dụm của mình vào công cuộc chung vẫn được dễ dàng. Thế nên, thử lấy ví dụ kỹ-nghệ hoá nước Nga, đã thực-hành trong một thời gian kỳ-lục. Theo cách của chúng ta vừa trình bày ở trên thì kinh-tế học là một khoa học rất cần thiết trong đời sống hiện-đại, nó chi phối và làm căn bản cho các ngành khoa-học khác. |