| khôn |
Tinh, khéo. Trái với gại: Người khôn, mưu khôn. Văn-liệu: Khôn nhà, dại chợ. Miệng khôn, trôn dại. Hết khôn dồn đến dại. Được thể, dễ nên khôn. Đứa khôn nói không lại, đứa dại nói không cùng. Khôn ăn cái, dại ăn nước. Khôn ba năm, dại một giờ. Khôn làm lại, dại làm nho. Khôn ăn người, dại người ăn. Khôn làm văn tế, dại làm văn bia. Khôn làm lẽ, khoẻ ở mùa. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết. Dại rồi còn biết khôn làm sao đây? (K). Chim khôn tránh lưới, tránh đò, Người khôn tránh chốn ô-đồ mới khôn. Khôn dồn ra mặt, què-quặt hiện ra chân tay. Chim khôn đậu nóc nhà quan, Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng. Khôn-ngoan đá đẩy người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (C-d). |
| khôn |
Khó, không: Khóc than khôn xiết sự-tình (K). Văn-liệu: Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn (K). Dễ dò dốn bể, khôn lường đáy sông (K). Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao (K). Gan chẳng đá khôn đường khá chuyển (C-o). Mắt thần khôn giấu, lưới trời khôn dung (N-đ-m). Phép vua khôn thứ, miệng cười khôn che (N-đ-m). Thế-gian ba sự khôn chừa, Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ. |