| lạm phát |
dt. (kinh) Sự phát giấy bạc hay tín-dụng quá số vàng dự trử do luật định, gây ra sự mất giá của tiền-tệ lưu-hành, tăng giá cả hàng-hoá và có thể gây ra một vài phương-diện khủng-hoảng kinh-tế: Thường, nạn lạm-phát hay xảy ra trong thời-kỳ chiến-tranh mà phí-tổn của một chính-phủ đã phải cần dùng đến một ngân-sách khổng lồ và những số tiền khó lượng trước được. Khi mà thuế má, dẫu rất nặng nề đối với dân chúng, đã không thể lấp cái lỗ trống trong ngân-sách chi tiêu về chiến-tranh, hầu hết chính-phủ các nước (Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhựt v.v..) đã phải dùng đến một phương-tiện tạm thời và có thể rất nguy hiểm về sau là lạm phát. Lạm-phát, có nghĩa là chính-phủ cho phép Ngân-hàng Phát-hành in thật nhiều giấy bạc bắt buộc dân chúng phải dùng (trả lương, mua vật-liệu cần dùng) trong khi sức sản-xuất vẫn ngang mức cũ. Dân-chúng có một cảm-tưởng là mình có nhiều tiền hơn nhưng sự thật thì số tiền ấy giữ một sức mua rất kém vì số tiền tăng-trội do chính-phủ phát ra không phải ngang với số hàng-hoá đã tăng theo mức ấy mà chỉ ngang với số hàng-hoá cũ. Như vậy, có nghĩa là giấy bạc nhiều, hàng-hoá ít. Tự nhiên là giá hàng-hoá phải cao. Giá hàng-hoá cao cũng có nghĩa là tiền bạc mất giá. Ở trong nước, sự mất giá ấy ít thấy hơn ở ngoài khi phải mua bán với ngoại quốc mà tiền-bạc phải căn-cứ trên vàng. Khi giá hàng-hoá đối với vàng đã sụt thì hàng-hoá trong xứ lại bán ra ngoại quốc được nhiều trong một thời kỳ (vì nước ngoài mua được lợi nhiều hơn khi tiền của nước ấy có giá. Năm 1920 là năm mà nước Đức bị nạn lạm-phát hơn cả, người ta tính nước ấy đã xuất-cảng năm 1920, 3.700.000 đồng mác (mark) hàng-hoá, năm 1922 lên tới 6.180.000. Số thợ thất nghiệp có từ 4.50% sụt xuống còn 0,6%). Trong thời-kỳ lạm-phát, lương-bổng của thợ theo pháp-giá (hay danh-giá) đã lên rất nhiều nhưng không ăn thua gì với sức lên giá của hàng-hoá, như vậy nghĩa là lương bổng theo thực-giá của người thợ kém sút. Họ ở trong hạng người tiêu thụ nên phải chịu ảnh-hưởng tai hại của nạn lạm-phát. Cùng chung số phận ấy nên kể các công, tư-chức, các người làm nghề tự do (văn-sĩ, ký-giả, kịch-sĩ v.v...) không thể đòi tăng lương ngay, tăng giá báo, sách vở hay tăng tiền công. Nếu nạn lạm-phát có hại cho một số người thì lại lợi cho một hạng người khác. Nên kể trước nhất là Chính phủ. Đến các nhà kỹ-nghệ, thương mãi. Họ được lợi ở chỗ hàng-hoá bán ra lên mau hơn là giá vốn và họ lại khôn khéo là luôn luôn đổi tiền bạc vừa thâu vào thành vật-hạng, nguyên-liệu mà sau nầy sẽ đổi thành hàng-hoá. Tình trạng trên đây có thể kéo dài trong một thời-gian và có thể trở lại mức bình thường nếu chính-phủ tìm cách giảm-phát - in giấy bạc bớt lại - bằng cách hạn-chế các phí tổn vô lối (chiến-tranh) và sản-xuất nhiều hơn. Nếu không, lạm-phát có thể tới một thời-kỳ khác gọi là thời-kỳ quá-lạm phát cực kỳ tai hại (Nước Đức sau chiến tranh 14-18, nước Tàu sau sự sụp đổ chế-độ Quốc dân đảng) mà sự phong phú của kỹ nghệ và thương mãi đã thay thế vào sự đình đốn của hầu hết các ngành sinh hoạt trong xứ vì mọi người đều cố trốn tránh trước một thứ tiền gần như mất hết cả giá. Ai cũng muốn đem tiền đổi ra hàng-hoá làm cho hàng-hoá lên giá từng ngày, từng giờ cho đến một lúc mà không ai muốn bán hàng-hoá ra nữa; có thể với một số hàng-hoá rất ít người ta phải trả đến hai ba bao bạc lớn. Khi công việc đã đến một giai đoạn đó thì tiền giấy không còn nghĩa lý gì nữa. Nó phải chết để mà kéo luôn sự sụp đổ của chính-phủ hay chế-độ làm ra nó. |