Bài quan tâm
| Từ đời Thành Vương nhà Chu (1063 1026 TCN) mới gọi là việt thường thị , tên Việt bắt đầu có từ đấy. |
| > 5 việt thường Thị : tên nước thời cổ ở phía Nam Trung Quốc có quan hệ với nhà Chu (hiến chim trĩ cho Thành Vương) , lần đầu tiên được ghi trong sách Thượng Thư Đại Truyện. |
| Có nhiều giải thích khác nhau , có thuyết nói rằng việt thường Thị ở miền quận Cửu Đức , tức miền Hà Tĩnh (Thủy Kinh Chú , Cựu Đường Thư) ; có thuyết nói Việt Thường thị ở vị trí nước Lâm Ấp đời sau (Văn Hiến thông khảo , Minh Sử , Minh nhất thống chí) Kỷ Hồng Bàng Thị Kinh Dương Vương [1b] Tên húy là Lộc Tục , con cháu họ Thần Nông6. |
| > Hùng Vương lên ngôi , đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải , tây đến Ba Thục , bắc đến hồ Động Đình , nam giáp nước Hồ Tôn , tức nước Chiêm Thành , nay là Quảng Nam) , chia nước làm mười lăm bộ là : Giao Chỉ , Chu Diên , Vũ Ninh , Phúc Lộc , việt thường , Ninh Hải , Dương Tuyền , Lục Hải , Vũ Định , Hoài Hoan , Cửu Chân , Bình Văn , Tân Hưng , Cửu Đức ; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương ; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô16. |
| 16 Việt Sử Lược chép nước Văn Lang gồm mười lăm bộ lạc , trong đó có mười bộ lạc giống tên như Toàn thư ghi trên đây (Giao Chỉ , Vũ Ninh , việt thường , Ninh Hải , Lục Hải , Hoài Hoan , Cửu Chân , Bình Văn , Cửu Đức , Văn Lang) , và năm bộ lạc với tên khác (Quân Ninh , Gia Ninh , Thang Tuyền , Tân Xương , Nhật Nam). |