| tiền tệ |
dt. Nht. Tiền: Trong các cuộc giao-dịch đầu tiên giữa loài người, từ bộ lạc nầy đến bộ lạc kia, người ta chỉ biết lấy vật đổi vật cho nhau và chưa hiểu đồng tiền là gì cả. Đến khi có mua bán, cho dẫu đã biết lấy vỏ hến, cá khô v.v... để thay thế cho vật đổi chác và bày ra một hình thức tiền bạc thô-sơ hơn cả, loài người cũng nhận thấy nhiều điều bất tiện (dễ hư mục, không thể cất lâu, mang đi khó khăn...) và đã nghĩ đến cách bày ra đồng tiền mà ngày nay chúng ta gọi một cách văn hoa là tiền-tệ. Tiền-tệ, nó là một lợi khí dùng trong việc giao-dịch, xem như là một món hàng và lên hay xuống giá tuỳ theo số lượng nhiều hay ít nghĩa là khi nào tiền phát ra nhiều quá thì mất giá và trái lại thì được giá. Tuy đó là lệ căn bản mà người ta thường dùng đến để giảng giải những hiện-tượng phức tạp về tiền-tệ nhưng có nhiều trường hợp mà lệ ấy không được đúng lắm. Như trên kia đã có nói qua, muốn thay thế các vỏ hến, cá khô, dễ hư, dễ nát, rất bất tiện khi mua bán, người ta đúc ra đồng tiền mà tiện lợi hơn cả là dùng kim loại. Thứ kim loại ấy phải bền, có thể đúc ra nhỏ lớn tuỳ ý, khó làm giả và nhất là phải có một giá trị lớn trong một trọng lượng nhỏ để mang đi cho dễ. Nên không gì tốt hơn là dùng vàng hay bạc, tuy ban đầu cũng có nhiều nơi dùng kẽm, đồng, thau pha lộn. | Việc đúc tiền lúc đầu được tự-do. Các lãnh chúa các ông hoàng dùng việc ấy kiếm lợi rất dễ. Dần dần về sau lọt vào tay các ông vua mạnh. Ngày nay thì là quyền của Quốc-gia và chỉ có chính-phủ mới có quyền ban hành những luật lệ về việc đúc tiền tệ. Mỗi nước, thường có mỗi thứ tiền như Mỹ có đồng đô-la, Anh có đồng liu. Pháp có đồng phật-lăng v.v... gọi là đơn-vị tiền tệ. Đơn-vị tiền-tệ được định theo một trọng lượng nào đó bằng kim loại ròng - nghĩa là không có pha lẫn thứ khác - - tiền phải đúc bằng vàng hay bạc, nặng bao nhiêu và dẫu có khác nhau trong cách gọi (nơi gọi đồng đô-la, nơi gọi đồng liu...) thì cũng vẫn phải tính theo trọng-lượng vàng hay bạc của mỗi thứ tiền. Trong việc đổi chác giữa nước nầy với nước kia, mỗi nước có một đơn-vị tiền-tệ được qui-định, thì việc tính toán giá-trị của thứ tiền nầy với thứ tiền kia không khó lắm: người ta tính theo tỷ-số trọng-lượng vàng hay bạc ròng giữa các thứ tiền nghĩa là tiền nào đúc vàng nhiều thì có giá nhiều, ít thì có giá ít. Nói một cách khác, người ta tính theo bình-giá kim loại. Trong việc đổi chác, từ nước này đem qua nước kia thì người ta tính thêm một ít tiền chuyên chở. Nhưng ta nên biết rằng trong việc giao dịch quốc tế, trong trường hợp phải chuyên chở tiền bạc từ nước nầy qua nước kia hay trái lại, thì người ta dùng một phương tiện khác gọi là phương-tiện bù trừ. Lối ấy căn cứ trên việc dùng hối-phiếu. Ví dụ ông BA ở Luân-đôn thiếu chịu ông Tư ở Ba lê 100 đồng liu. Trái lại ông Năm ở Ba-lê lại thiếu chịu ông Sáu ở Luân-đôn 100 đồng liêu. Ông Năm sẽ đến mua tờ giấy có ghi số nợ gọi là hối phiếu ở ông Tư rồi ông ta gởi qua Luân đôn trả cho ông Sáu. Như vậy là ông Tư ở Ba-lê được trả ngay số tiền thiếu bằng đồng phật-lăng và ông Sáu khi nhận được hối phiếu của ông Năm sẽ được trả bằng đồng liu tại Luân-đôn. Có một điều ta cần phải hiểu là ông Tư ở Ba-lê đã được bao nhiêu đồng phật lăng khi hối-phiếu là 100 đồng liu. Đó là vấn-đề về giá đồng tiền đổi-chác giữa xứ nầy với xứ kia mà ta gọi là thời giá hối đoái. Thường, thì những hối phiếu được mua bán qua tay các nhà băng mà ở đó người ta định thời giá. Theo người ta nghĩ, thì đồng liu trả tại Luân-đôn đổi ra được nhiều hay ít đồng phật lăng tuỳ theo ở Ba-lê người ta nợ nhiều hay ít ở Luân-đôn. Nhưng nếu trong trường hợp mà cả Luân-đôn và Ba-lê đều có chung một thứ tiền-tệ - vàng chẳng hạn - được đúc tự do thì người ta vẫn có thể trả cho nhau bằng vàng. Hối phiếu trả ở Luân đôn sẽ bán ở Ba-lê theo thời-giá thêm một ít tiền chuyên chở. Người ta sẽ tính nên trả bằng vàng hay trả bằng hối-phiếu tuỳ theo giá vàng cao hay hạ mua bằng tiền-tệ trong nước (Xt. Điểm nhập kim, điểm xuất kim). Đó là việc đổi chác trong thời-kỳ đúc tiền tự do mà riêng chỉ có vàng là có một hiệu-lực miễn-trái. Qua thời-kỳ mà nhiều nước - ở Pháp chẳng hạn - dùng hai thứ kim loại vàng và bạc để đúc tiền và cho cả hai thứ tiền đều có hiệu lực miễn trái được lưu hành theo pháp định và vô hạn thì việc đổi chác có phần rắc rối hơn. Chế-độ lưỡng bản-vị (xt. tiếng nầy) đã gặp nhiều điều bất tiện tuy chế-độ ấy cũng đã sống gần một thế-kỷ. Khi bạc vì sản-xuất nhiều quá và phải bị mất giá thì việc đúc tiền tự-do bằng bạc cũng bị cấm chỉ vì lẽ bạc khi đã mất giá người ta sẽ đem bạc đổi ra vàng và vàng sẽ tìm đường ra cả ngoại quốc. (luật của Gresham: "thứ tiền rẻ đuổi mất thứ tiền quí") Nên về sau, chỉ còn dùng vàng làm bản vị và việc đổi chác với nước ngoài chỉ căn cứ trên vàng. Đối với những nước từ trước vẫn giữ bản-vị bạc thì việc giao-dịch trong nước vẫn dùng đồng bạc hay bạc giấy (xem tiếng chỉềtệ) trừ khi nào phải mua bán với ngoại quốc mới bắt buộc dùng vàng. Và với những nước ấy, tự nhiên là tiền bạc trong nước phải mất giá đối với tiền bạc nước ngoài. Ví dụ đồng ru-pi của ấn - bản-vị bạc - đối với đồng liu của Anh - bản-vị vàng - thì 15 hay 16 ru-pi mới ăn được 1 đồng liu của Anh. Theo nhiều cuộc thí nghiệm của những nước có thứ tiền mất giá - tiền bạc hay tiền giấy- thì trong việc đổi chác tiền-tệ, muốn tiền mình có một hối-đoái ổn-định người ta không cần phải có một số vàng lưu hành nhiều trong xứ hay một số trữ kim lớn lao. Tiền bằng bạc hay bằng giấy thì tiêu dùng trong xứ, vàng - trữ-kim của tiền giấy in ra trong xứ - thì đem mua bán với ngoại quốc. Sự liên lạc giữa tiền bạc và vàng vì vậy càng ngày càng xa lần, cho đến ngày nay, nhiều nước không có đủ vàng để đổi tiền ra mua bán với ngoại quốc cũng có thể dùng những phương pháp khác như nhờ đến một số tiền vay ở một cường quốc, phiếu-khoán ngoại-tệ nghĩa là những giấy tờ ghi một giá trị có thể đổi ra vàng hay được các nước trọng dụng như vàng. Như vậy, chế độ mới về hối đoái ổn-định không cần phải có vàng bảo đảm mà chỉ cần trên thị-trường hối-đoái một cơ-quan chính thức sẵn sàng mua bán những hối-phiếu, cổ-phần, trái-khoán có một giá-trị đặc biệt trên đường giao-dịch quốc-tế mà ta thường gọi là những giá-khoán ngoại-quốc. Trong việc giao-dịch trên đây, đồng tiền thường có hai thứ giá: pháp giá (hay giá pháp-định) do chính phủ định và thực-giá, giá mua bán trên thị trường (cũng thường gọi là giá chợ đen). Hai giá nầy thường chênh-lệch nhau rất xa. Ví dụ pháp-giá của đồng bạc Đông dương là 32 đồng, thực giá có khi trên 50 đồng. Sự khác nhau đó cũng không có gì là lạ. Ta đã biết đồng tiền là một thứ hoá-vật thì vẫn không tránh khỏi luật cung, cầu. Tiền người ta đòi hỏi nhiều thì có giá (vì đồng tiền ấy mua được nhiều đồ vật) trái lại ít ai đòi hỏi thì mất giá. Muốn biết số ngoại tệ và số tiền quốc-gia đổi ra ngoài trong mỗi thời-gian thì cần phải xem cân chi và thu trong xứ trong khoảng thời-gian ấy. Kết-sổ của cân chi-thu thừa hay thiếu có ảnh hưởng trực-tiếp đến giá trị đồng tiền ở ngoài tức là đến hối suất thực sự của nó. Vì việc buôn bán, nên cân chi thu của một nước có thể đổi từ thừa ra thiếu, từ thiếu ra thừa, do đó, đồng tiền đã ly gián với vàng có thể tăng giảm rất chóng và rất nhiều. Một ngân sách hao hụt, một vụ rối loạn về xã-hội, những sự cố gắng về chiến tranh có thể ảnh hưởng đến hối-suất rất nhiều. Mà đã ảnh hưởng đến hối-suất thì sự buôn bán với ngoại quốc sẽ có những sự thay đổi ngay. Nếu đồng bạc trong nước mất giá nghĩa là hối suất cao thì mình sẽ bán ra được nhiều vì ai cũng muốn mua hàng-hoá giá rẻ của mình và sẽ có lợi cho việc xuất cảng; còn nếu đồng bạc được giá nghĩa là hối-suất hạ thì việc xuất-cảng khó khăn trong khi nhập-cảng dễ. Ngày nay, các nước có một nền kỹ nghệ mạnh, nếu không có chiến tranh, thì sự sản-xuất trong nước ra quá nhiều hàng-hoá nên nước nào cũng muốn xuất-cảng. Người ta đã thường dùng đến cái lối phá giá đồng tiền cho sụt xuống để hối-suất cao lên, mục đích là xuất-cảng cho dễ. Nhưng kết-quả cũng chỉ được thời hạn mà thôi. (Xt. Phá giá). Đã biết hối-suất quan hệ đến tiền tệ, đến cả nền kinh-tế trong xứ, nên từ lâu rồi, phần nhiều các nước đều áp-dụng chế-độ kiểm-soát hối-đoái. (Xt. Hối-đoái). Muốn cho hồi-suất khỏi lên xuống thất thường, chính phủ thường cấm đưa tư-bản ra ngoại-quốc, cấm xuất-cảng vàng, hạn-chế sự đổi tiền trong xứ lấy ngoại-tệ v.v... Cùng một lúc chính-phủ kiểm-soát cả ngoại-thương nghĩa là xuất và nhập-cảng. Nhiều cơ quan được thành lập ra như Sở hối đoái có quyền mua hay trưng-thu ngoại tệ đưa vào trong nước để bán lại cho tư nhân hay các công sở theo giá pháp-định; Quỹ bình-giá hối-đoái để tuỳ thời can thiệp vào việc mua bán, mục-đích là giữ cho hối-suất được ổn-định: ví dụ, khi số ngoại-tệ xin đổi ra tiền quốc-gia quá nhiều thì quỹ bình-giá hối-đoái phải đem tiền ra mua tất cả ngoại-tệ để ngăn cho hối-suất khỏi bị hạ, trái lại, khi nào ngoại-tệ thiếu thì quỹ sẽ đem ngoại-tệ bán ra để hối-suất khỏi lên cao quá. Điều quan hệ không phải là giữ gìn một sự bình-giá đối với vàng mà là đối với những thứ-tiền khác, cho dẫu phải căn cứ trên vàng hay không. Tóm tắt lại, đồng tiền biến-chuyển ra rất nhiều cách tuỳ theo những trường hợp xã-hội, chính-trị hay kinh-tế mỗi nơi và mỗi thời. Trong chế-độ tư-bản những cuộc khủng-hoảng về tiền-tệ rất thường xảy ra, người ta tìm cách nầy hay cách khác để ngăn ngừa, nhưng rốt cuộc, hễ ngăn-ngừa được sự hư hỏng ở chỗ nầy thì lại nguy-hại ở chỗ kia. Người ta nghĩ rằng chế-độ tiền-tệ không thể là một chế-độ đứng tách riêng ra ngoài chế-độ kinh-tế được. Chế-độ tiền-tệ không vững vàng có nghĩa chế-độ kinh-tế có nhiều chỗ cần phải sửa đổi lại. Xt. Lạm phát. Lưỡng-bản vị-chế. Giảm phát || Chế-độ tiền-tệ. |