Phụ: Mặc Đăng Doanh, Mạc Phúc Nguyên

[ 16 trang ]

Tách câu và Phiên âm

. [1a*1*1]
Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên quyển chi thập lục.
. [1a*5*12]
Lê Hoàng Triều KỶ.
  . [1a*6*8]
Phụ Mạc [Đăng Doanh bát niên Phúc Hải lục niên Phúc Nguyên nhị niên,] Trang Tông Dụ Hoàng Đế [Huý Ninh, hựu huý Huyến Tại vị thập lục niên, thọ tam thập tứ tuế.] [Đế tao đốn tị nạn, lại cựu thần tôn lập, ngoại kết lân phong nội nhiệm hiền tướng, cố, nhân giai lạc dụng, trung hưng chi cơ thực triệu ư thử hĩ] Đế nãi Chiêu Tông chi tử, Thánh Tông chi huyền tôn.
  . [1a*7*2]
Mẫu Phạm thị, huý Ngọc Quỳnh Thuỵ Nguyên huyện Cao Trĩ sách nhân.
. [1a*9*1]
Thời, Mạc Đăng Dung soán tiếm, Đế tị cư Thanh Hoa.
使 . [1a*9*13]
Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim sử nhân phỏng cầu nghênh chí Ai Lao quốc tôn lập chi.
.
Quý Tị Nguyên Hoà nguyên niên, [Mạc Đại Chính tứ niên .
.
Minh Gia Tĩnh thập nhị niên,] xuân chính nguyệt, Đế tức vị vu Ai..

Trang: 1a

Dịch Quốc Ngữ


Kỷ Nhà Lê

Phụ: Họ Mạc (Đăng Doanh 8 năm, Phúc Hải 6 năm, Phúc Nguyên 2 năm)

Trang Tông Dụ Hoàng Đế

Tên húy là Ninh, lại húy là Huyến, ở ngôi 16 năm, thọ 34 tuổi. Vua gặp vận gian truân phải đi lánh nạn, nhờ được bề tôi cũ tôn lập, bên ngoài liên kết với nước láng giềng, bên trong dùng được các tướng giỏi, cho nên mọi người đều vui lòng gắng sức, nền móng trung hưng bắt đầu từ đấy.

Vua là con của Chiêu Tông[Chú giải] , cháu xa đời của Thánh Tông, mẹ là Phạm thị, tên húy là Ngọc Quỳnh, người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên[Chú giải] . Khi Đăng Dung cướp ngôi, tiếm hiệu, vua tránh về Thanh Hóa. Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim sai người dò tìm, đón vua sang nước Ai Lao tôn lập.

Quý Tỵ, [Nguyên Hòa] năm thứ 1 [1533], (Mạc Đại Chính năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 12). Mùa xuân, tháng giêng, vua lên ngôi ở Ai